Bộ chính trị, tổng bí thư, ban chấp hành trung ương đảng

1. Bộ Chính Trị:

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thường gọi tắt là Bộ Chính trị là cơ quan lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; báo cáo công việc đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương.

Các thành viên trong Bộ Chính trị do Ban Chấp hành Trung ương bầu ra. Bộ Chính trị gồm các ủy viên chính thức và có thể có các ủy viên dự khuyết.

Thực tế Bộ Chính trị chính là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng.

 

Thành viên

Số Ủy viên trong Bộ Chính trị không nhất định nên có thể thay đổi. Vì nội quy thay đổi không được công bố nên quyết định số ủy viên được xem là quyết định kín.

Bộ chính trị có 13 thành viên vào năm 1976 khi thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 1996 thì tăng lên thành 19.

Trong số ủy viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Tổng Bí thư. Trước đây Ban Chấp hành Trung ương còn bầu ra chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, nhưng hiện nay (2010) không còn chức vụ này nữa, người giữ chức vụ này duy nhất là Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một ủy viên Bộ Chính trị đảm nhận chức danh Thường trực Ban Bí thư.

Theo cơ cấu trong Đảng, các ủy viên Bộ Chính trị giữ tất cả những cương vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền: Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch quốc hội, Phó thủ tướng thường trực, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công An. Từ khóa VII (1991-1996) trở đi, Bí thư thành ủy Hà Nội  Bí thư thành ủy Hồ Chí Minh luôn luôn có mặt trong Bộ Chính trị. Bộ trưởng Bộ ngoại Giao cũng thường có mặt trong Bộ Chính trị, nhưng không phải trong mọi trường hợp: như các ông Hoàng Minh Giám, Ung Văn Thiêm, Xuân Thủy, Nguyễn Dy Niên không ở trong Bộ Chính trị.

Các ủy viên khác giữ những cương vị chủ chốt của bộ máy đảng: Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng (đảm nhiệm công tác cán bộ), Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng (kiểm tra tư cách đảng viên, chống tham nhũng). Tuy nhiên những người đứng đầu cơ quan tư pháp (Viện trưởng Viện trưởng Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao, Chánh Án, Tòa Án nhân dân tối cao) không có mặt trong Bộ Chính trị.

 

2.     Tổng Bí thư:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thường được gọi tắt Tổng Bí thư, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi bỏ chức Chủ tịch Đảng (chức vụ này duy nhất do Hồ Chí Minh nắm giữ từ năm 1951 đến khi qua đời năm 1969). Riêng thời kỳ 1960-1976 được gọi là "Bí thư thứ nhất".

Tổng Bí thư đứng đầu Ban Chấp hành trung ương, chủ trì công việc của Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Theo thủ tục chính thức thì Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Bộ Chính Trị, bầu Tổng bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị.

 

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCHTƯ hoặc BCHTW) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam giữa hai kì đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp giữa hai nhiệm kì đại hội là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do đại hội đại biểu toàn quốc bầu và số lượng ủy viên do đại hội quyết định. Năm 1976 sau đại hội kỳ IV thì số Ủy viên là 101 người. Đến kỳ VIII thì số Ủy viên tăng lên 170. Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 41 ủy viên dự khuyết.

-       Nhiệm vụ

+ Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).

+ Bầu Bộ chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Uỷ viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trong số Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.

+ Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

+ Ban Chấp hành trung ương có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn.

Theo Điều lệ Đảng thì Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Trong khi đó Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, nhưng không phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

-       Phương thức làm việc

Họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần.

 

 

Thành viên

Thành viên Ban Chấp hành trung ương thường gồm các quan chức cấp cao trong Bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh Các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường đảm nhiệm các cương vị quan trọng: Tổng bí thư, Chủ tịch  Phó Chủ tịch, Thủ tướng  Phó thủ tướng, Chủ tịch và phó chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban bí thư, người đứng đầu và phó các ban của Đảng, Bộ trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thứ trưởng Bộ Công An, người đứng đầu các ủy ban quan trọng của Quốc hội, Bí thư tỉnh ủy các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trân tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, người đứng đầu Thông tấn xã Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam  Đài tiếng nói Việt Nam.

 

 

Cơ quan tham mưu giúp việc

Theo QĐ45-QĐ/TW của Bộ Chính Trị (hợp nhất các ban của đảng, từ tháng 4 năm 2007), các ban sau có chức năng chủ yếu là tham mưu về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực được giao cho Ban Chấp hành Trung ương:

1.    Văn phòng Trung ương Đảng

2.    Ban Tổ chức Trung ương

3.    Ban Tuyên giáo Trung ương

4.    Ban Dân vận Trung ương

5.    Ban Đối ngoại Trung ương

6.    Ban Cán sự Đảng Ngoài nước

7.    Ủy ban Kiểm tra Trung ương

 

 

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc

Hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất bản. Về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với các Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:

1.    Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

2.    Báo Nhân dân

3.    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật

4.    Tạp chí Cộng sản

4.        

 

Hãy liên hệ với chúng tôi
A: P204, nhà A6B, Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
P: 04 6656 4319   /   F: 04 6281 7104
E: luatdongdo@gmail.com & luatsu@luatdongdo.com
Hotline: 091452 2626 - 098 301 7755