Nói về công chứng và chứng thực

Luật Công chứng và Nghị định 79 về chứng thực đã có hiệu lực từ tháng 7.2007, nhưng đến nay không ít cán bộ và người dân vẫn chưa phân biệt được công chứng và chứng thực... nên đã yêu cầu cơ quan nhà nước thực hiện không đúng thẩm quyền.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Công chứng, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Còn chứng thực là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính hoặc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực. Như vậy, công chứng là hành vi của công chứng viên, còn chứng thực là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Trưởng, Phó phòng Tư pháp, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã, viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (Điều 5, Nghị định 79/CP). 

Như vậy, việc chứng sao từ bản chính hay chứng thực chữ ký của UBND cấp xã là hoạt động chứng thực chứ không phải là công chứng. Tuy nhiên, không chỉ người dân mà ngay cả một số cán bộ, công chức cũng chưa phân biệt được giữa công chứng với chứng thực. Vì vậy, có nơi, tại UBND xã có bảng chỉ dẫn “Nơi ký công chứng” và “Nơi đóng dấu công chứng”. Hàng ngày, các Phòng Công chứng vẫn còn nhiều người đến yêu cầu chứng thực bản sao giấy tờ. Ngay cả một số cán bộ, công chức cũng chưa nắm được cụ thể các quy định của hai văn bản pháp luật, cho nên vẫn có sự nhầm lẫn giữa công chứng và chứng thực.

Khi triển khai thực hiện NĐ 79/CP về công tác chứng thực, Phòng Tư pháp cấp huyện chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài; Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài... cũng gặp khó khăn vì thiếu cộng tác viên dịch thuật tiếng nước ngoài không thông dụng như tiếng Ý, Hàn Quốc, Đức... Vì vậy, đối với những trường hợp này, người dân sẽ phải đến các Phòng Tư pháp có đủ cộng tác viên.
Có những trường hợp, người dân yêu cầu chứng thực bản sao tiếng nước ngoài, cán bộ thực hiện việc chứng thực không nắm được nội dung bản chính nên lo ngại xảy ra sai sót.

Đối với việc chứng thực các văn bằng thì càng phức tạp hơn. Trong thời gian qua, không ít trường hợp cán bộ làm công tác chứng thực ở xã, phường phát hiện các bằng cấp giả, có cả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả... Hoặc có trường hợp cán bộ chứng thực nghi ngờ nhưng cũng khó xác định vì chưa có kinh nghiệm và chưa có các thông tin từ phía các cơ quan chức năng về các loại giấy tờ có thể giả mạo. 

Để hoạt động chứng thực và công chứng đúng pháp luật, thời gian tới, ngành Tư pháp cần phối hợp với ngành công an và các ngành hữu quan tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ và biện pháp phát hiện các loại giấy tờ giả mạo, đồng thời tiếp tục tuyên truyền để công dân nắm được các quy định của Luật Công chứng và Nghị định 79.

Hãy liên hệ với chúng tôi
A: P204, nhà A6B, KĐT Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
P: 04 6656 4319   /   F: 04 6281 7104
E: luatdongdo@gmail.com & luatsu@luatdongdo.com
Làm visa - thẻ tạm trú: 0904.929.599
Hotline: 091452 2626 - 091584 0886