Vướng mắc trong việc định lượng ma túy khi xét xử tội phạm

Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng quy định về định lượng ma túy để xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo điều 194 Bộ luật hình sự


Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành, việc áp dụng quy định về trọng lượng ma túy để xét xử bị cáo theo Điều 194 Bộ luật hình sự có nhiều thuận lợi. Điều 194 đã quy định cụ thể về trọng lượng ma túy áp dụng cho từng khoản tương ứng với hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc định tội, định khung hình phạt trong hoạt động xét xử, đảm bảo được tính nghiêm minh, khách quan, công bằng khi ban hành các bản án.

Để hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 194 Bộ luật hình sự, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Điều 194 Bộ luật hình sự; Liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, trong đó hướng dẫn cách thức, phương pháp tính, quy đổi định lượng ma túy, định lượng xác định cấu thành tội phạm đối với các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án về ma túy. Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết về định lượng, tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy, là căn cứ để xác định khung hình phạt áp dụng và mức hình phạt tương ứng với trọng lượng do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra giúp cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng dễ dàng áp dụng, tránh được sự tùy tiện khi áp dụng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nội dung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 về định lượng ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự còn nhiều vướng mắc trong quá trình vận dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cụ thể như sau:

1. Về việc giám định hàm lượng chất ma túy

Theo quy định của pháp luật, trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chất nghi là ma tuý hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma tuý, tiền chất, nhưng phần lớn các vụ án về ma túy không được giám định hàm lượng moocphin vì chỉ có Viện khoa học hình sự – Bộ Công an – mới làm được việc này. Chính vì vậy mà trong các kết luận giám định của cơ quan giám định ở địa phương việc xác định định lượng ma túy nêu chưa rõ ràng, thông thường chỉ kết luận: “Mẫu vật gửi giám định có chế phẩm heroin…”, trong khi đó chưa có sự hướng dẫn thống nhất về cách hiểu thuật ngữ “chế phẩm Heroin” hoặc “Heroin” trong giám định tư pháp. Trong trường hợp kết quả giám định ghi là chế phẩm Hêrôin thì trọng lượng chế phẩm Hêrôin có bằng trọng lượng Hêrôin không? Nếu là chế phẩm Heroin thì phải xác định hàm lượng heroin là bao nhiêu % Heroin, còn lại bao nhiêu % là chất hóa học nào khác?

Việc giám định hàm lượng chất ma túy đối với ma túy tổng hợp ở thể rắn, thể lỏng, các chất ma túy mới như “ma túy đá”, “nước biển” hay giám định hàm lượng chất ma túy chứa trong thuốc tân dược (như tranxene, valium…), thuốc gây nghiện tại nhiều địa phương chưa có sự thống nhất và phải chờ kết quả phân tích, giám định của cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, việc giám định hàm lượng chất ma túy còn gặp khó khăn do chưa có đủ trang thiết bị kỹ thuật để giám định dẫn đến việc khởi tố, truy tố và xét xử một số vụ án về ma túy chưa đảm bảo tính chính xác, khách quan, quá trình điều tra các vụ án ma túy bị kéo dài.

Mặt khác, đối với dung dịch có chứa thuốc phiện, xái thuốc phiện thì việc xác định công thức quy đổi ra trọng lượng thuốc phiện ban đầu rất khó bởi không rõ loại thuốc phiện đó trong thành phần của nó chứa bao nhiêu % moocphin. Chính vì vậy, một số cơ quan tiến hành tố tụng đã không bóc tách hàm lượng chất ma túy trong các loại thuốc độc gây nghiện hay thuốc hướng tâm thần mà quy đồng trọng lượng của các viên thuốc lắc, thuốc chứa chất độc nghiện, thuốc hướng tâm thần thành trọng lượng chất ma túy làm căn cứ để xác định khung hình phạt, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án khác nhau còn chưa chính xác. Nếu trong cùng 1 vụ án có từ 2 chất ma túy trở lên thì việc quy về tổng trọng lượng 1 chất để áp dụng khung hình phạt quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự càng khó khăn.

2. Về việc tính trọng lượng ma túy

Việc tính trọng lượng ma túy trong một số vụ án cũng chưa thống nhất, có vụ án căn cứ vào hàm lượng (tinh chất) ma túy nhưng có vụ án lại căn cứ trọng lượng thực tế (gồm tinh chất và tạp chất) thu giữ được để xem xét trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án cũng khác nhau.

Xét về hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thì hành vi tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy không nguy hiểm bằng hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong khi đó Điều 194 Bộ luật hình sự lại quy định định lượng chất ma túy và hình phạt đối với các hành vi của người vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt chất ma túy với hành vi của người buôn bán chất ma túy là như nhau nên thực tiễn còn khó khăn cho việc xác định tội danh, áp dụng hình phạt. Thông tư liên tịch số 17 cũng chỉ quy định chi tiết về định lượng tối thiểu xác định cấu thành tội phạm đối với các hành vi vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy, không quy định định lượng tối thiểu đối với hành vi mua bán. Do đó cần quy định định lượng tối thiểu chất ma túy được mua bán để xác định cấu thành tội phạm.

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt chủ yếu căn cứ vào trọng lượng ma túy mà người phạm tội mua bán, tàng trữ, vận chuyển chiếm đoạt nhưng đến nay Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao mới chỉ hướng dẫn đường lối xử lý đối với khoản 4 Điều 194 BLHS, còn khoản 2 và khoản 3 chưa được hướng dẫn cụ thể nên trong thực tế một số vụ án xét xử còn áp dụng thiếu thống nhất.

Trong vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nếu bị cáo phạm tội trong một vụ án đơn lẻ, với vai trò độc lập có thể phải chịu hình phạt là tử hình hoặc tù chung thân, nhưng cũng với lượng ma tuý như vậy, thậm chí nhiều hơn, nếu bị cáo phạm tội trong một vụ án có tổ chức, có đông bị cáo tham gia và vai trò của bị cáo thấp hơn so với những bị cáo khác thì có thể không bị áp dụng hình phạt trên. Như vậy là cùng một loại hành vi, tính chất, mức độ phạm tội nhưng trách nhiệm hình sự lại khác nhau, trong khi hành vi phạm tội có tổ chức bao giờ cũng nguy hiểm hơn hành vi phạm tội đơn lẻ.

Bộ luật hình sự quy định trọng lượng chất ma túy được xác định bằng đơn vị gram, kilogram. Trong thực tế có vụ án ma túy không thu giữ được tang vật mà chỉ dựa trên lời khai của các đối tượng xác định trọng lượng chất ma túy bằng đơn vị bánh, cây, chỉ, phân… mà chưa xác định và quy đổi thành đơn vị tính theo quy định của Bộ luật hình sự nên không đủ căn cứ để định tội, do đó có một số trường hợp để lọt tội phạm.

3. Về phạm tội nhiều lần

Hiện nay phần lớn các vụ án về ma túy là phạm tội quả tang, hàm lượng ma túy được xác định dựa trên kết quả giám định tang vật của vụ án. Do vậy việc xác định hàm lượng ma túy trong trường hợp phạm tội nhiều lần (do bị cáo tự khai) là hết sức khó khăn, không có cơ sở để xác định định lượng, khi cân nhắc hình phạt chỉ xem xét hình phạt đối với định lượng khi bắt quả tang.

Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 của BLHS mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì có vụ án áp dụng phần I của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” thì xử lý bị cáo với tội danh đầy đủ các hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có vụ án áp dụng phần II của Thông tư thì chỉ xử lý bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do nhận thức về Thông tư liên tịch số 17 giữa Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có khác nhau như trên nên việc giải quyết các vụ án về ma túy ở các Tòa án có khác nhau, còn lúng túng trong việc điều tra, truy tố, xét xử.

4. Về tình tiết là yếu tố định khung hình phạt

Việc áp dụng tình tiết định khung nhiều lần quy định tại điểm b khoản 2 điều 194 còn khó khăn. Đối với các trường hợp mua, bán nhiều lần thường là các đối tượng nghiện ma tuý vừa sử dụng, vừa bán lẻ, khi bị bắt và chứng minh có việc mua bán 2 lần mỗi lần chỉ 0,1gam Hêrôin thì bị truy tố, xét xử ở khoản 2 Điều 194 BLHS. Như vậy so với định lượng được quy định tại các khoản khác của Điều 194 BLHS thì hành vi mua, bán nhiều lần như trên là quá nghiêm khắc, không phù hợp. Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng định khung cao hơn quy định của Luật. Do vậy, gây khó khăn cho Hội đồng xét xử trong việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo, đặc biệt là đối với các vụ án đồng phạm có nhiều bị cáo tham gia mà vai trò chỉ là người giúp sức, bị rủ rê lôi kéo…

Qua thực tiễn xét xử cho thấy việc quy định, áp dụng hình phạt tiền trong một số trường hợp đối với Tội tàng trữ, mua bán chất ma túy là không phù hợp. Ví dụ: trường hợp con nghiện mua thuốc phiện về tàng trữ để sử dụng hoặc mua bán quay vòng, lấy lãi để sử dụng thì những trường hợp này phạt tiền bị cáo sẽ không có tính khả thi.

Ngoài ra, khoản 5 Điều 194 BLHS quy định áp dụng hình phạt bổ sung, nhưng trong quá trình điều tra cơ quan điều tra không thu thập chứng minh tài sản hiện có của những người phạm tội nên không có cơ sở để áp dụng hình phạt bổ sung về phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

Ngoài những vướng mắc nêu trên, thì việc Tòa án áp dụng điểm p khoản 1 điều 46 BLHS về tình tiết giảm nhẹ, thật thà khai báo cho các bị cáo vẫn còn bất cập do quá trình khai báo, nếu bị cáo khai ra càng nhiều thì bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn hoặc khai những lần phạm tội khác ngoài lần cơ quan điều tra phát hiện thì trọng lượng ma túy sẽ nặng hơn và sẽ bị xử lý nặng theo khoản 2 Điều 194, còn khi đối tượng ngoan cố không khai nhận chỉ bị xử lý theo khoản 1 Điều 194.

Kiến nghị

- Đề nghị nghiên cứu thành lập một cơ quan chuyên trách về giám định, kết luận các loại chất ma túy để kịp thời phục vụ trong công tác đấu tranh với loại tội phạm này, đặc biệt là trong điều kiện ngày càng xuất hiện nhiều chất ma túy mới.

- Trang bị đầy đủ thiết bị kỹ thuật cho các cơ quan chuyên môn để thực hiện tốt việc giám định xác định hàm lượng chất ma túy hoặc tiền chất ma túy.

- Đề nghị cơ quan giám định tư pháp cần đưa ra kết luận chính xác về loại ma túy được giám định xếp hàng thứ bao nhiêu trong danh mục các chất ma túy, tiền chất hoặc các chất hóa học khác. Chất nào tuyệt đối cấm sử dụng, chất nào được dùng hạn chế trong lĩnh vực nào, chất nào được dùng trong y tế với đối tượng nào; thường xuyên nghiên cứu, rà soát bổ sung thêm một số chất ma túy mới cho phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy.

- Đề nghị nên hướng dẫn thu hẹp lại khoảng cách định lượng vì theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định định lượng heroin từ 100g đến dưới 300g là khoảng cách quá xa. Người phạm tội với trọng lượng 100g heroin cũng phải chịu mức hình phạt như người phạm tội với trọng lượng heroin 299g (hình phạt là 20 năm tù) là chưa hợp lý.

- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ xét xử tội phạm về ma túy, nhất là tập huấn việc nhận dạng các chất ma túy được tinh chế dưới dạng mới, các vấn đề liên quan đến xác định định lượng ma túy để cập nhật kiến thức chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán và Thư ký.

Hãy liên hệ với chúng tôi
A: P204, nhà A6B, Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
P: 04 6656 4319   /   F: 04 6281 7104
E: luatdongdo@gmail.com & luatsu@luatdongdo.com
Hotline: 091452 2626